Phần 3: Review xe SUV 2 cầu số sàn chưa đến 200 triệu Mitsubishi Pajero 2004

Phần 3: Review xe SUV 2 cầu số sàn chưa đến 200 triệu Mitsubishi Pajero 2004

Sau khi xác định rõ nhu cầu và tâm lý ở phần 1 cũng như đã chuẩn bị các tiêu chí ở phần 2, mình sẽ đánh giá lại quyết định của chính bản thân mình trong bài review này

Có thể nói, lần quyết định mua sắm này của mình là có chút mạo hiểm, liều lĩnh và ra khỏi vùng an toàn. Mình chốt kèo một chiếc ô tô 185 triệu ngay sau khi đi xem xe và sang tên chính chủ luôn.

Cấu hình

Chiếc xe của mình có một vài thông số cấu hình chính như sau:

  1. Mitsubishi Pajero V33V đời 2004. Tên gọi ở Việt Nam là vậy còn ngoài quốc tế thì nó là Pajero Gen 2, một vài nơi thì thay Pajero thành Montero.
  2. Động cơ 6G72 dung tích 3.0L V6 với 12 van SOHC cho công suất tối đa 109 kW(146 HP) @5000rpm và 235 N.m @3600rpm
  3. Số sàn 5 cấp. Dẫn động 2 cầu cổ đại, 4WD bán thời gian, cầu sau chủ động. Mình từng có một bài viết mổ xẻ rất chi tiết về AWD và 4WD tại đây rồi, mời các bạn tham khảo thêm
  4. SUV đúng nghĩa, Body on Frame, hay còn gọi là thùng tôn trên khung sắt. Khối lượng bản thân 1,955kg
  5. Kích thước: 4755x1695x1865mm. Chiều dài cơ sở 2755mm

Nếu xét về phân khúc thì các bạn hình dung nó sẽ tương đương với Fortuner, Pajero Sport bây giờ, tất nhiên là đời cũ hơn nhiều thì không thể so sánh được với 2 mẫu mình kể trên, nhưng nhìn chung nó cùng phân khúc SUV 7 chỗ.

Khoang động cơ của chiếc xe gần 20 năm tuổi.

Ưu điểm

– Che mưa che nắng. Sắt thép bọc da thịt. Vì xe đời cũ nên dàn áo bên ngoài xe dày dặn, cứng cáp và nhiều kim loại. Tất nhiên nhược điểm sẽ là nặng, mình sẽ chia sẻ thêm ở phần sau.

– Dòng xe này khá phổ biến khi được nhiều cơ quan bộ ngành nhà nước cũng như doanh nghiệp sử dụng vì vậy nhiều gara có thể xử lý được nếu có sự cố ven đường. Phụ tùng cho xe cũng không quá khan hiếm

– Khả năng Offroad tương đối tốt, đi được nhiều địa hình khá xấu. Mình từng lội suối và lên bản. Và lên bản vùng cao Tây Bắc nơi chỉ có xe máy và ô tô địa hình có thể đi được.

– Gầm cao nên lội suối cũng như lội mưa khá tốt, Hà Nội ngập thì cũng vẫn tự tin chậm rãi bò qua

– Hầu hết bộ phận là cơ khí, ít thành phần điện tử. Với xe cũ như này thì những bộ phận dùng điện sẽ bắt đầu có vấn đề nhiều hơn là những bộ phận cơ khí.

Nhược điểm

– Xe đời sâu và là bản base nên không có nhiều option

– Chỉ có phanh đĩa phía trước, phía sau vẫn tang trống. Không có ABS và tất cả những công nghệ an toàn khác như: BA, EDB, ESP, TCS, HAC, ESS…

– Không có túi khí, chỉ có dây an toàn, mà lại chỉ có cho 5 chỗ phía trên, 2 ghế cuối cũng không có dây an toàn

– Toàn sắt nên nặng, cái xe thôi đã nặng 2 tấn rồi, động cơ 3.0 chỉ mạnh ngang xe 1.8 đến 2.0 bây giờ

– Và tất nhiên, uống xăng khá nhiều, tầm 11 Lít cho 100km đường trường đều chân ga. Trong phố đi đường không tắc chắc tầm 15 Lít / 100km, còn tắc đường thì đốt xăng chạy điều hòa không đong đếm

– Không có hệ thống giải trí, chủ cũ đã lắp thêm màn Android nhưng cũng khá cùi, dùng Google Maps sẽ lag nặng nên mình chủ yếu chỉ dùng Vietmap S1 và để bật nhạc mà thôi. Google Maps dùng trên điện thoại

– Chỉ có 1 dàn điều hòa núm vặn cơ, có nóng có lạnh. Gương chỉnh cơm, gập cơm. Kính chỉnh điện. Cái kính điện này đời cũ nên lên xuống có phần thất thường, đôi khi bị kẹt, nhiều lúc mình ước gì nó là loại quay cơm, tuy không tiện nghi nhưng lại không lo lắng về việc bị kẹt

Trải nghiệm thực tế

Về cảm giác ngồi lái

– Vị trí ngồi cao nên quan sát xung quanh dễ dàng, tầm nhìn cũng rất thoáng. Tất nhiên xe cao có trọng tâm cao sẽ chòng chành hơn xe thấp.

– Vô lăng trợ lực dầu nhưng không quá nặng, nhẹ hơn vô lăng con xe Grand Vitara của bố mình nhưng độ dơ thì nhiều hơn. Cảm nhận được mặt đường khá rõ ràng trên vô lăng này, ví dụ đi qua đường xấu là cảm nhận được độ rung từ bánh xe lên đến vô lăng. Vô lăng cũng chỉ có chỉnh cao thấp chứ không có chỉnh xa gần.

– Cần số khá mượt mà, hành trình chuyển số dài. Chân côn thì nặng hơn nhiều so với sedan, hoặc cũng có thể do bộ lá côn, bàn ép, bi tê của mình cũ nên chân côn cũng nặng hơn đáng kể.

– Ghế lại chỉ có thể điều chỉnh 2 hướng tiến lùi và có ngả lưng, điểm này thì hơi tiếc vì mình muốn chỉnh được cả độ cao thấp

Về khả năng vận hành

Chiếc xe này vẫn rất ngon lành, mình không gặp bất cứ vấn đề gì trong việc vận hành nó cả.

– Đôi lần mình vẫn cho đi leo núi đường đất sỏi đá dăm, leo lên biên giới, vùng sâu vùng xa không điện không sóng điện thoại và vẫn có thể trở về an toàn. Thường địa hình như vậy thì chỉ bán tải hoặc SUV khung gầm rời 2 cầu mới có thể đi được. Xe vận hành tốt ở cả chế độ 1 cầu lẫn 2 cầu (2H-4H) thậm chí có những đoạn mình phải cài 2 cầu chậm (4L)

– Chạy đường cao tốc vẫn có thể lên 120km/h, tuy nhiên lúc này vòng tua máy lên tầm 3500rpm nên sẽ khá ồn nên thường mình chỉ chạy tối đa 100km/h

– Đi đường quốc lộ với dải tốc độ 50-80km/h thì cực kì ổn, xe đầm chắc, cách âm tốt, với tốc độ 80km/h ở số 5 thì vòng tua rơi vào tầm 2300-2500rpm. Chỉ lưu ý một điều đó là vì xe gầm cao, trọng tâm cao, vì vậy không nên ôm cua quá nhanh và gắt, sẽ giúp giảm sự tròng trành và lắc ngang.

– Trong phố thì xe hơi dài nhưng lại không quá to ngang, tất nhiên đi trong phố nhỏ sẽ không thể linh động như xe cỡ nhỏ, vì vậy mình cũng khá ít khi dùng để đi phố.

– Bán kính quay đầu cũng khá lớn vì trục cơ sở của xe khá dài, khi quay đầu cũng cần phải mở cua nhiều hơn

– Xe này sử dụng hệ thống khung gầm rời nên rất cứng cáp, hệ thống treo cũng sử dụng những công nghệ khá cũ và cổ rồi, ví dụ như treo sau là vẫn dùng lá nhíp nhưng chắc cũ rồi nên mình thấy khá êm chứ không quá cứng như bán tải bây giờ, cũng có thể vì chạy lốp xe khá dày 205/80R16 nên cũng làm tăng độ êm ái cho chiếc xe.

– Sức mạnh cũng như khả năng tăng tốc thì nó như con xe tải nhỏ thôi, không thể nhanh như mấy chiếc xe mới cùng cỡ bây giờ dù mang động cơ 3.0 V6. Tất nhiên nếu đạp ga mạnh thì xe cũng bốc, nhưng mình không có thích lái kiểu vậy. Xác xe nặng nên leo dốc cũng không nhanh như các xe cùng cỡ đời mới, với đường QL 6 mình hay đi thì những đoạn dốc như Thung Khe thì thường mình leo với số 3 cùng tốc độ tầm 40km/h cùng vòng tua tầm 2000-2500rpm

Về tiện ích

– Cách âm khá tốt, mình ngồi trong xe là giảm khá nhiều âm thanh bên ngoài dội vào, có lẽ đây là lợi thế của xe khung gầm rời. Bật nhạc hơi to chút là không nghe thấy gì bên ngoài luôn dù loa trên xe cũng cùi mía lắm, chỉ có 2 cái loa stereo 2 bên táp lô mà thôi. Tuy nhiên, vì là xe cũ nên có nhiều chi tiết trên xe sẽ phát ra tiếng động khi đi qua những đoạn đường sóc

– Xe có được chủ cũ gắn màn hình Android nhưng cũng cùi, bật Google Maps cũng lag. Vì vậy mình chỉ dùng để bật nhạc và dùng Vietmap S1

– Điều hòa vận hành cũng vẫn rất tốt, vẫn mát, tuy chỉ là điều hòa cơ, có 2 chế độ Eco và A/C, quạt có 4 cấp từ nhỏ đến lớn và điều chỉnh độ mát cũng bằng núm xoay, xe cũng chỉ có 1 dàn lạnh ở hàng ghế trên cùng nên phải mất chút thời gian để mát đến các hàng ghế phía sau. Những hôm Hà Nội 39-40 độ và xe phải phơi nắng thì điều hòa sẽ phải mất rất nhiều thời gian mới có thể mát được. Cái này thì mình thấy xe bố mình cũng vậy nên chắc cũng sẽ là tình trạng chung

Về trang bị

– Xe chỉ có đèn chiếu sáng trước, không có đèn gầm. Đèn theo xe dùng bóng Halogen chân H4 với chóa phản xạ, hơi tối nên mình mua cặp đèn LED về thay cho sáng. Tất nhiên là mình thay và cân chỉnh đúng tiêu chuẩn để không gây chói mắt cho người đối diện, mình sẽ chia sẻ trong một bài viết khác để hướng dẫn các bạn cân chỉnh đèn pha/cos nhé

– Xe chỉ có trang bị dây an toàn cho 5 người. Ngoài ra không có túi khí, ABS, hay các trang bị an toàn khác

Về không gian

– Không gian trong xe nhìn chung là rộng rãi, chỗ để chân thoải mái cho hàng ghế đầu và hàng ghế 2. Hàng ghế cuối vẫn sẽ hơi co giò.

– Không gian hành lý nếu ngồi 3 hàng ghế thì chỉ vừa 2 vali cỡ trung, ngồi 2 hàng ghế thì sẽ để được tầm 4-5 vali cỡ lớn, chỉ ngồi hàng ghế đầu thì sẽ có phần thùng xe rộng tầm 8 vali cỡ lớn

Với mình, số tiền bỏ ra cho chiếc xe này đến nay vẫn làm mình rất hài lòng và ưng ý, và đem lại cho mình một lựa chọn an toàn hơn để xê dịch. Biết rằng ô tô thì an toàn hơn xe máy, nhưng ô tô cũ an toàn đến đâu? Hãy cùng mình tìm hiểu thêm trong Phần 4: Đảm bảo an toàn khi đi ô tô cũ

Ngoài ra, mình cũng sẽ chia sẻ thêm cả về kinh nghiệm bảo trì bảo dưỡng và chi phí nuôi xe trong các phần sau, các bạn hãy đón đọc nhé. Bài viết này là một phần của chuỗi bài viết về chiếc ô tô đầu tiên của mình. Các bạn có thể xem thêm toàn bộ chuỗi bài viết tại đây

Long Mổ Xẻ

Blog này cũng là nơi để mình chia sẻ nhiều hơn cả về những trải nghiệm của bản thân và những điều mà mình thấy có ích xoay quanh cuộc sống hàng ngày. Hi vọng những trải nghiệm đó cũng sẽ hữu ích đối với các bạn.

4 bình luận trong “Phần 3: Review xe SUV 2 cầu số sàn chưa đến 200 triệu Mitsubishi Pajero 2004

  1. Cảm ơn bài viết tâm huyết của bạn, cho mình hỏi Pajero V33, V73, các thông số này hiểu thế nào, đời nào thì V33, đời nào thì V73, cảm ơn bạn

    1. Thông số này thường nằm trên số khung của xe để phân biệt các phiên bản của Pajero bạn ạ. Bình thường nếu đi mua xe cũ thì trong đăng kiểm sẽ nhìn thấy dải kí hiệu đó nằm đâu đó trong số khung và trong tấm thông tin được đính trong buồng máy của xe

      Nó cũng có nhiều phiên bản lắm nhưng mình sẽ tóm tắt một số phiên bản phổ biến ở đây nhé:

      V31, V33, V43 và V45 là 3 phiên bản phổ biến nhất của Pajero Gen 2 ở VN và có một số khác biệt chính như sau
      V31 – máy xăng 2.4 – gầm nhíp – bánh gầy mâm sắt xi – không có vi sai trung tâm
      V33 – máy xăng 3.0 – gầm nhíp – bánh gầy mâm sắt xi – không có vi sai trung tâm
      V43 – máy xăng 3.0 – gầm lò xo – bánh béo mâm đúc – có vi sai trung tâm
      V45 – máy xăng 3.5 – gầm lò xo – vè lồi bánh béo – có vi sai trung tâm – đây như là bản full option của Gen 2

      V73 thì là Pajero gen 3, hay thấy nhất là xe chở tiền
      V93 là Pajero gen 4, hay thấy xe công an dẫn đoàn đời mới bây giờ còn chạy
      Gen 3 và gen 4 thì không dùng khung gầm rời nữa mà chuyển qua UniBody. Nhìn mặt calang sẽ phân biệt được ngay 2 đời này 😀

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *